Hồi Tưởng Những Ngày Đầu Sư Phụ Lý Hồng Chí Truyền Pháp

Lời giới thiệu

Bài của một đệ tử Đại Pháp tại Trung Quốc
[MINH HUỆ 13-5-2011]

Năm mới 2011 đã đến, cùng với tiếng pháo hoa ồn ào, tôi đã thấy một cảnh tượng phi thường trong các không gian khác. Một con thuyền Pháp cứu độ chúng sinh bay thẳng lên vào trong những đám mây, như một chiếc thang dẫn tới Thiên Đàng.

Xuất hiện trong quang cảnh ấy là thứ âm nhạc hay kỳ lạ, cùng những thiên nữ trải hoa. Tôi cảm thấy thật thần thánh và thuần khiết, và hát “Phổ độ”, “Tế thế”, “Pháp Luân Đại Pháp hảo” trong tâm. Tôi may mắn nhiều lần được chứng kiến vị sáng lập của Pháp Luân Đại Pháp – Sư Phụ Lý Hồng Chí – dạy Pháp tại Trung Quốc. Mỗi lần tôi đều hạnh phúc được đắm chìm trong dòng ký ức, tôi thấy những cảnh tượng thần kỳ hoặc nghe được loại âm nhạc tuyệt vời, như mô tả ở trên. Sau đây là một vài kỷ niệm mà tôi muốn được chia sẻ cùng với mọi người.

1. Bắc Kinh, 1992

Vào mùa hè năm 1992 tôi đi thăm bạn bè. Họ biết là tôi đang có sức khỏe kém, nên họ chân thành giới thiệu Pháp Luân Công cho tôi. Nghe được rằng Pháp Luân Công đặt việc tu luyện tâm tính lên hàng đầu, tôi lập tức thích và theo họ tập luyện ngay. Một buổi tối tôi thấy một cái cối xay gió lớn đang xoay rất nhanh. Con gái bạn tôi hạnh phúc bảo: “Cái mà bác vừa thấy là Pháp Luân đấy. Bác thật là có tiền duyên!”. Tôi bắt đầu luyện Pháp Luân Công. Những đau đớn trên khắp cơ thể từ đầu tới chân, tất cả nhanh chóng biến mất hoàn toàn.

Vào tháng 9 năm ấy, Hội nghiên cứu khí công Bắc Kinh đã tổ chức một lớp học khí công lần thứ 3 tại Hội trường Pháo binh số 2 của quân đội. Tôi ghi tên và tham dự. 7 ngày trước khi lớp học bắt đầu tôi nghe được rằng Sư Phụ đang cùng với một số đệ tử điều chỉnh thân thể của những người bệnh đến xin được chữa, ở bên cạnh hội trường. Tôi háo hức được gặp Sư Phụ biết bao! Tôi muốn thể hiện lòng biết ơn sâu sắc của mình. Tôi tới đó cùng với mấy học viên. Khi tôi tò mò nhìn quanh, thình lình tôi thấy bàn tay của Sư Phụ, bao phủ bởi một thứ ánh sáng trắng đậm đặc. Sư Phụ đang giơ bàn tay tới đầu của một bệnh nhân. Trong chớp mắt, một thứ màu đen nhầy nhớt xuất ra và bị vứt ra ngoài cửa sổ. Bệnh nhân hoàn toàn bình phục!

Đó là điều mà tôi tận mắt chứng kiến! Đối với những người như tôi, đầu óc hoàn toàn bị tẩy não bởi thuyết vô thần của Đảng cộng sản Trung Quốc, đã cực sốc với cảnh tượng trước mắt mình. Kinh ngạc! Bệnh nhân được chữa khỏi ngay lập tức, hết người này tới người khác. Tôi cũng đã khỏi hết bệnh tật sau khi tập Pháp Luân Công, từ mấy tháng trước lớp học này. Tất cả những điều đó đều là sự thật triển hiện ngay trước mắt tôi.

Ngay khi tôi bình tĩnh trở lại, Sư Phụ thần thái an hòa bước tới tôi mỉm cười và ôn tồn hỏi: “Đã thấy được điều gì chăng?”. Nhìn Sư Phụ mỉm cười ngay trước mặt, tôi vội trả lời: “Vâng, con đã thấy. Con thấy Sư Phụ thực hiện một thủ thuật”. Sư Phụ lại mỉm cười. Trong thâm tâm tôi tự nhiên xuất hiện lòng sùng kính vô hạn đối với Ngài.

Sau khi lớp học bắt đầu, nhiều đồng tu và tôi đợi bên cạnh cổng hội trường hàng sáng để đón chào Sư Phụ. Sư Phụ luôn luôn mỉm cười và vẫy tay chào mọi người. Các học viên liền tự động dãn ra nhường lối đi ở giữa cho Ngài. Hàng ngày sau khi lớp học kết thúc, các học viên xem Sư Phụ bước vào trong xe ô tô của một đệ tử. Khi chiếc xe đã xa khuất dạng trên con đường, chúng tôi mới rời đi.

Sư Phụ dạy chúng tôi những điều chúng tôi chưa bao giờ từng được nghe trước đây. Tôi chăm chú lắng nghe, hy vọng nắm lấy từng lời từng câu. Tôi cảm thấy lớp học thật là thần thánh, và mọi đệ tử đều cung kính.

Một ngày khi đang nghe giảng Pháp trong lớp học, tôi trông thấy một hình ảnh của Sư Phụ sau lưng ghế của mỗi đệ tử. Tôi nghĩ đó là các Pháp thân của Sư Phụ.

Một ngày khác tôi gặp Sư Phụ trong mộng. Sư Phụ cực kỳ cao lớn và đang ngồi đó, mỉm cười. Tôi quỳ xuống bên cạnh Sư Phụ và ngẩng nhìn Ngài, cảm thấy như Sư Phụ là cha của mình.

Được gặp Sư Phụ trong đời thực, tôi rất xúc động. Tôi chỉ biết rằng Sư Phụ và Pháp Luân Công là tốt, hoàn toàn tin tất cả những gì Sư Phụ giảng. Lời dạy của Sư Phụ cho tôi biết được rằng loài người bước chân vào thế giới này để tu luyện thay vì chỉ đơn giản sống như người thường.

Sư Phụ khác các thầy khí công khác. Trong một xã hội nơi mà chuẩn mực đạo đức đang xuống dốc khủng khiếp, Sư Phụ đang ở đây để canh tân đổi mới loài người.

Vào ngày cuối cùng của lớp học, Sư Phụ trả lời các câu hỏi của học viên. Hàng ngày khi giảng Sư Phụ luôn luôn nói “Bất cứ điều gì chư vị chưa hiểu, hãy viết ra. Đừng đặt câu hỏi bây giờ. Tôi sẽ trả lời tất cả các câu hỏi của chư vị vào ngày cuối cùng”. Sư Phụ kiên nhẫn trả lời từng câu hỏi.

Sau khi lớp học kết thúc, các học viên xin chụp ảnh chung với Sư Phụ. Ngài mặc một bộ âu phục xám và đứng ở giữa các đệ tử. Chúng tôi hình thành nhiều nhóm khác nhau, và mỗi nhóm đều chụp ảnh. Một nhóm nói “Sư Phụ, xin hãy lại đây chụp ảnh với chúng con!”. Lát sau một nhóm khác lại gọi lớn “Sư Phụ, xin hãy đến đây với chúng con!”. Nhiều học viên và tôi đi theo Sư Phụ đến với các nhóm, hạnh phúc rơi nước mắt. Trong khi đang chụp ảnh, các đệ tử không ngừng hô to “Sư Phụ của chúng ta”, “Sư Phụ của chúng ta!”. Cuối cùng, tất cả các đệ tử, xuất phát từ đáy lòng mình, đồng thanh hô lớn “Sư Phụ của mọi người!”. Việc chụp ảnh kéo dài rất lâu. Chụp ảnh xong, mọi người tranh nhau tới xin chữ ký của Sư Phụ. Sư Phụ kiên nhẫn đứng ở đó ký tên cho từng người.

Xuất hiện trong quang cảnh ấy là thứ âm nhạc hay kỳ lạ, cùng những thiên nữ trải hoa. Tôi cảm thấy thật thần thánh và thuần khiết, và hát “Phổ độ”, “Tế thế”, “Pháp Luân Đại Pháp hảo” trong tâm.

Tôi may mắn nhiều lần được chứng kiến vị sáng lập của Pháp Luân Đại Pháp – Sư Phụ Lý Hồng Chí – dạy Pháp tại Trung Quốc. Mỗi lần tôi đều hạnh phúc được đắm chìm trong dòng ký ức, tôi thấy những cảnh tượng thần kỳ hoặc nghe được loại âm nhạc tuyệt vời, như mô tả ở trên. Sau đây là một vài kỷ niệm mà tôi muốn được chia sẻ cùng với mọi người.

2. Vũ Hán, tháng 3/1993

Vào năm 1993 tôi may mắn được dự lớp học của Sư Phụ tại thành phố Vũ Hán. Trước khi lớp học bắt đầu, Hội Nghiên cứu Khí công địa phương thảo luận về vấn đề học phí. Sư Phụ nói rõ rằng đó là để cứu độ chúng sinh, không thể chỉ nghĩ đến chuyện kiếm tiền. Lớp học thu 40 tệ mỗi học viên mới, và 20 tệ mỗi học viên cũ. Hội thảo chỉ thu mỗi người 2 tệ để trang trải chi phí thuê hội trường. Nhưng chủ tịch Hội nghiên cứu Khí công địa phương nói rằng họ muốn kiếm tiền và đề nghị tăng học phí lên 50 tệ mỗi học viên, và phí tham dự hội thảo lên 10 tệ mỗi người. Sau khi thảo luận thêm, họ quyết định rằng Hội nghiên cứu Khí công địa phương sẽ lấy 60% tiền thu được, còn Hiệp hội Pháp Luân Công chỉ được giữ 40%. Nếu chúng ta tính phí thuê hội trường, các chi phí quảng bá, in tài liệu, phí vận chuyển và chỗ ở, thì 40% ấy là vừa vặn đủ trang trải mà thôi. Không còn dư lại gì cả. Hội nghiên cứu Khí công địa phương rất kinh ngạc: “Pháp Luân Công thu phí thấp nhất trong số các lớp dạy khí công ở thành phố Vũ Hán. Thật hiếm thấy người nào bỏ qua cơ hội kiếm tiền”.

Nhiều nhà báo của các tòa báo và đài truyền hình cũng tham dự lớp học. Các nhà báo hết lời ca ngợi Pháp Luân Công và nhà sáng lập, nói rằng Pháp Luân Công là môn khí công cực kỳ đặc biệt mà họ chưa bao giờ được nghe đến trước đây, và là một Đại Pháp đức cao, có thể thực sự đưa con người lên các tầng thứ cao hơn.

Vào ngày 15/3/1993, Sư Phụ mở một lớp học tại hội trường Sở nghiên cứu số 701 của Tổng công ty Đóng tàu Trung Quốc tại Vũ Xương. Một trung đội trưởng cảnh vệ là một người ưa chuộng khí công. Ông đưa toàn bộ lính trong trung đội của mình tới tham dự hội thảo. Khi họ nghe được những điều quan trọng, họ nhiệt liệt vỗ tay hoan hô. Giờ đây nhớ lại điều đó, tiếng vỗ tay của họ vẫn còn vang vọng mãi bên tai tôi.

Một nam học viên chừng 40 tuổi, khi còn trẻ từng theo tổ tiên luyện võ thuật, nói “Đây là một vị Sư Phụ vĩ đại. Khi giảng Pháp Ngài phóng ra công cường mạnh, kim quang lấp lánh, bao trùm khắp hội trường và thậm chí xuyên qua cả mái nhà”.

Một ngày có một người đàn ông khác cũng chừng trên 40 tuổi cố vào hội trường mà không có vé, bị các nhân viên công tác ngăn lại. Ông ta ở ngoài hét ầm ĩ “Tôi tới đây đấu với Sư Phụ các ông. Sư Phụ tôi đã trên 100 tuổi. Sư Phụ các ông còn nhỏ lắm”. Ông ta còn nói nhiều lời bất hảo. Nhưng Sư Phụ cho ông ta vào. Sau khi nghe bài giảng của Sư Phụ, người đàn ông này bình tĩnh lại và rất hối hận “Tôi sẽ không bao giờ tới quấy rầy nữa. Đây là vị Sư Phụ chân chính!”.

Vào lúc 2h chiều ngày 25/3/1993 Sư Phụ mở 2 cuộc hội thảo kéo dài gần 2 tiếng tại Hội trường tòa thị chính thành phố Hán Khẩu.

Các nhà báo tham dự hội thảo cảm thấy Pháp Luân Công thật phi thường và báo cáo về Đại Pháp trên nhiều tờ báo và đài truyền hình. Một số người thậm chí còn được chữa khỏi bệnh tật khi trò chuyện qua một đường dây nóng tư vấn. Họ nhận thấy rằng Sư Phụ thực sự là Phật, cứu độ họ thoát khỏi những khổ đau. Họ quá vui mừng phấn khởi và tán thưởng đến nỗi nhiều người hỏi xin địa chỉ lớp học qua đường dây nóng này rồi đến dự cuộc hội thảo. Mặc dù mưa to hôm ấy, nhưng hội trường vẫn đầy ắp người tham dự.

Cuộc hội thảo nhanh chóng bắt đầu. Mặc dù trời vẫn mưa to, có nhiều người ở phòng vé trước hỏi mua vé vào phòng đứng. Nhà tổ chức, Hội nghiên cứu khí công thành phố Vũ Hán, nhanh chóng thêm nhiều vé phòng đứng, nhưng cũng bán hết ngay. Nhưng, càng lúc càng nhiều người nữa đến. Một số người thậm chí còn mua vé của đám cò vé để được tham dự cuộc hội thảo.

Sau khi một văn phòng của Hội nghiên cứu khí công thành phố Vũ Hán có bài phát biểu ngắn, một phụ nữ lớn tuổi lên sân khấu hội trường và chạy quanh 3 vòng. Sau đó bà giới thiệu về bản thân: bà đã bị liệt và nằm giường suốt 3 năm, không thể tự chăm sóc bản thân. Nhưng khi bà nghe một chương trình Pháp Luân Công trên đài phát thanh, bà đã làm theo các chỉ dẫn của Sư Phụ và ngay lập tức bình phục hoàn toàn. Mọi người trong hội trường thấy bà chạy thật nhẹ nhàng, không ai tưởng tượng nổi bà từng là một người tàn phế liệt giường suốt 3 năm trời! Nhiều người tới đây với những trải nghiệm tương tự như người phụ nữ ấy. Họ đều rất cảm kích sau khi được chữa khỏi nhờ nghe chương trình phát thanh ấy.

Sư Phụ cài Pháp Luân cho mỗi từng đệ tử trong suốt buổi hội thảo. Ngài bảo mọi người chìa bàn tay ra, lòng bàn tay hướng lên. Có ai đó xúc động la lên “Tôi thấy rồi, tôi thấy rồi! Tôi thấy Pháp Luân đầy màu sắc xoay quanh trong lòng bàn tay tôi!”. Một số người mô tả Pháp Luân như là một quả bóng, một số thì cảm thấy lòng bàn tay của họ nóng ran. Một số trông thấy hội trường tràn ngập Pháp Luân, chúng rơi vào lòng bàn tay các học viên, lên bụng, lên đầu, … hầu như khắp mọi nơi. Cả hội trường tràn đầy những điều kỳ diệu.

Bầu không khí của buổi hội thảo thật hài hòa. Tôi cảm thấy như thể toàn thân mình chìm đắm trong một trường năng lượng khổng lồ mạnh mẽ. Tất cả những thứ không tốt đều được gỡ bỏ, và tất cả những tư tưởng xấu đều được tẩy sạch. Sau buổi hội thảo nhiều người thỉnh cầu Sư Phụ hãy giảng thêm một bài khác, nói rằng cả cuộc đời họ sẽ hối tiếc nếu bỏ lỡ những lời dạy của Ngài.

Kết thúc hội thảo, Sư Phụ tới núi Võ Đang tại tỉnh Hồ Bắc. Chúng tôi đang ở trong cùng xe với Sư Phụ và tới điểm thắng cảnh núi Võ Đang. Một đệ tử trông thấy một kiến trúc hình vòm thình lình rơi xuống và đứng ở ngay trước mặt chúng tôi. Cậu ấy hỏi “Sư Phụ, con thấy một mái vòm lớn. Giờ chúng ta đang lái xe về phía nó”. Sư Phụ nói “Đó là cánh cổng dẫn vào núi Võ Đang”. Người đệ tử ấy hỏi “Bên cạnh mái vòm có nhiều võ sỹ đang đứng, mặc những bộ trang phục cổ xưa. Khoảng cách giữa từng cặp võ sỹ là khoảng chừng 20m. Tất cả các võ sỹ đều mặc giáp trụ và đội mũ miện kỳ lạ. Mỗi mũ miện có nhiều góc hình nón, mỗi chóp nón đính một bông hoa mai. Tất cả võ sỹ đều cầm những vũ khí cổ xưa bằng tay trái…”. Sư Phụ nói “Họ là sơn thần”.

Tiến vào núi, mấy đệ tử thiên mục mở nhìn thấy đầy trên núi có rất nhiều đền thờ, và nhiều người đứng trên đá. Có người mặc áo trắng, có người mặc áo xám, đều là cổ trang. Sư Phụ nói: “Đó đều là những người tu Đạo trong quá khứ”.

Khi xe chúng tôi tiến lên, một cảnh tượng ngoạn mục xuất hiện ngay trước mặt chúng tôi. Một ma trận hình vuông khổng lồ đang nằm ngay phía trước mặt, được hình thành bởi nhiều ma trận vuông nhỏ hơn. Mỗi ma trận nhỏ được tạo ra bởi rất nhiều người màu vàng kim đứng thành nhiều hàng, đều đang mặc giáp trụ màu vàng kim. Một sinh mệnh khổng lồ màu vàng kim đang đứng trước một ma trận vuông lớn. Tất cả những người màu vàng kim đó đều có cùng một tư thế. Họ đặt bàn tay trái phía trước bụng với lòng bàn tay hướng lên trên, và nâng bàn tay phải lên về phía trước, hình thành thế liên hoa chưởng. Mọi người trông đều rất thành kính, và toàn bộ quang cảnh thật phi thường.

Sư Phụ nói “Thế thủ ấn đó nghĩa là ‘Hoan nghênh’ ”. Cả đội hình trông thật là lớn. Nó trải rộng ngút tầm mắt tôi, như thể là vô biên. Thêm nữa, nó hoàn toàn khác với những gì chúng ta thấy trong đời thường. Chúng ta thường thấy những thứ ở xa thì nhỏ và mờ còn những thứ ở gần thì lớn và rõ. Nhưng dù đội hình ấy trải rộng như bất tận, thì những chỗ ở xa cũng rõ như những thứ ở gần vậy. Thật là kỳ diệu!

Chếch về phía Bắc có một ngọn núi khác, nghe nói là nơi tu luyện của nhất thế tôn sư Trương Tam Phong lừng danh thiên hạ. Nhiều học viên trông thấy một ngọn núi thứ 3 qua thiên mục, trên đó phản chiếu hình ảnh Trương Tam Phong đang tu luyện.

Trên đường về chúng tôi gặp một vụ kẹt xe. Có nhiều xe cộ làm tắc nghẽn con đường. Thường thường để đường thông trở lại được thì phải mất nhiều tiếng đồng hồ. Mọi người vội vã bởi chúng tôi cần phải trở về thành phố Vũ Hán để chuẩn bị cho lớp học thứ 2. Sư Phụ rời xe và bắt đầu điều khiển giao thông. Dường như chẳng có điều gì mà Sư Phụ không thể giải quyết được.

Vào ngày 29/3, lớp học bắt đầu đúng giờ. Một số học viên đến từ các thành phố khác ở tỉnh Hồ Bắc, còn một số từ các tỉnh khác. Một số vừa mới tới thành phố Vũ Hán công tác thì “tình cờ” có cơ hội đến dự lớp và nghe Sư Phụ giảng Pháp. Sư Phụ tới hội trường trước mỗi bài giảng và quan sát các học viên bước vào. Khi Sư Phụ bước lên đài, tất cả học viên đứng dậy hoan nghênh Ngài bằng tiếng vỗ tay như sấm dậy. Sư Phụ luôn luôn chào mọi người bằng một nụ cười trong khi tất cả các học viên chăm chú nhìn Ngài. Tiếng vỗ tay không ngớt cho tới khi Sư Phụ nhiều lần ra hiệu dừng lại. Sư Phụ không bao giờ dùng sách vở ghi chép gì trong khi giảng Pháp, chỉ có một mảnh giấy với những ký hiệu mà chúng tôi không thể hiểu được. Các học viên yên lặng và mọi người đều lắng nghe chăm chú. Chỉ có giọng nói âm vang của Sư Phụ tràn ngập hội trường mà thôi.

Trong suốt bài giảng nhiều học viên trông thấy những ánh hào quang đủ màu sắc phát ra từ phía sau lưng Sư Phụ. Một học viên có thiên mục mở thấy sân khấu trở thành một tòa nhà lớn có cổng ra vào. 2 cánh cổng đang mở. Ở mỗi bên cổng có 4 vị võ tướng trong trang phục cổ xưa. Sư Phụ đang giảng Pháp bên trong tòa nhà ấy. Sau khi Sư Phụ giảng xong bài, tôi nói với Ngài: “Sư Phụ, con trông thấy hội trường này biến thành một con tàu. Bên cạnh con tàu là những cuộn sóng đánh tung lên. Sư Phụ đang giảng Pháp trên con tàu ấy", và Ngài bảo: "Tôi đã truyền Pháp tốt thế này cho chư vị, 2 tay mang tới cho chư vị một cách vô điều kiện, đưa chư vị đi theo con đường lớn này. Hơn nữa, tôi còn giúp chư vị một đoạn đường”.

Sư Phụ nói “Đúng, chính xác! Tôi thực sự đang độ chư vị!”.

Trong suốt lớp học kéo dài 10 ngày ấy, hàng ngày đều có hướng dẫn tập công. Một số đệ tử thao diễn các bài tập công trên sân khấu. Sư Phụ sửa chữa các động tác cho học viên. Sư Phụ trông thật ân cần, từ bi và luôn luôn mỉm cười. Ngày cuối cùng là phần hỏi và trả lời câu hỏi. Dù các học viên đặt nhiều câu hỏi đến mấy, Sư Phụ vẫn luôn luôn trả lời và giải thích một cách kiên nhẫn cho tới khi các học viên có thể lĩnh hội được các nguyên lý của Pháp.

Một lần khi Sư Phụ đang nghỉ ngơi, một nữ học viên không kìm lòng được bước lên sân khấu và kể về những trải nghiệm của mình. Hóa ra là bà đã từng bị thoát vị đĩa đệm thắt lưng một bên và không thể bước đi được. Bà tìm cách chữa trị khắp nơi, nhưng không ai chữa nổi, vậy mà sau khi tập Pháp Luân Công mấy ngày thì bệnh tật của bà đã biến mất hoàn toàn. Bà kể rõ rằng vào lúc ấy cơ thể bà cảm giác hết sức nhẹ nhàng, đúng như lời Sư Phụ giảng trong sách Chuyển Pháp Luân “chư vị sẽ cảm thấy thân nhẹ nhàng, như đi trên gió vậy”.

Trong số các học viên, có người còn tặng Sư Phụ một tấm hoành phi viết “Đại Pháp đức cao”, bày tỏ lòng tôn kính vô cùng đối với Sư Phụ. Một phụ nữ lớn tuổi nói “Lý Sư Phụ chính là Phật sống!”.

Sau khi lớp học thứ 2 kết thúc vào ngày 8/4/1993, để bày tỏ lòng cảm kích, Hội nghiên cứu khí công thành phố Vũ Hán đã mời Sư Phụ tới núi Mộc Lan. Ngay khi chúng tôi tới gần ngọn núi, chúng tôi trông thấy nhiều tiên nữ đang bay lượn trên bầu trời, trang phục và dáng vẻ diễm lệ giống như hình ảnh các tiên nữ trong những bức họa ở Đôn Hoàng. Còn có nhiều võ sỹ cao lớn. Họ đã canh gác ở đó hàng ngàn năm qua.

Đứng trên bờ vực, quay mặt về phía hồ Mộc Lan lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời, Sư Phụ bước chân phải về phía trước, đưa bàn tay phải chỉ thẳng lên bầu trời. Mọi người đều sững sờ trước khí thế uy vũ vô biên của Sư Phụ, nhanh chóng chụp ảnh Ngài, mãi mãi lưu làm kỷ niệm.

3. Quảng Châu, tháng 4/1993

Ngày đầu tiên trong chuỗi 9 ngày giảng Pháp tại Quảng Châu được tổ chức tại hội trường Nhà máy cao su Quảng Châu từ 13/4/1993 tới 22/4/1993. Chỉ có hơn 40 học viên tham dự lớp học này. Nhà tổ chức là trường Khí công Bảo Lâm tại Quảng Châu.

Sư Phụ ở tại khu nhà tập thể của nhà máy, vốn rất tồi tàn. Khu nhà tập thể này có một nhà ăn, cung cấp thức ăn cực kỳ thanh đạm. Vào một bữa tối, học viên A bưng bát cơm với ít rau cải trắng không dầu mà cả gốc rễ còn chưa cắt ra, nói rằng thật là nuốt không trôi. Bạn học của anh ta trong quân đội nhìn số thức ăn ấy thì rất sốc và hỏi “Làm sao mà ăn nổi thứ này?”. Khi A quay lại, anh thấy Sư Phụ đã ăn xong cùng đồ ăn như thế mà khuôn mặt vẫn mỉm cười, và đã chuẩn bị trở lại lớp học. Học viên này liền cảm thấy dấy lên những cảm xúc khó nói nên lời.

Một lần trong khi chúng tôi đang ăn, Sư Phụ nói “Đây”, và đặt một quả trứng ốp la vào bát của một học viên. Học viên ấy nhìn lên và chúng tôi vội vàng lấy tay che miệng bát của mình lại. 2 học viên ôm bát cơm chạy đi chỗ khác. Quả trứng ốp la ấy là do một học viên thấy Sư Phụ giảng bài khổ cực nên mua và thỉnh mời Sư Phụ dùng. Sư Phụ mỉm cười hiền từ và nói “Hãy ăn đi. Mỗi chư vị đều cực khổ. Hãy ăn đi”.

Một ngày sau khi giảng Pháp, Sư Phụ tươi cười nói với các nhân viên công tác “Hôm nay chúng ta đi ăn tiệm nhé”. Sư Phụ dẫn 5 đệ tử đi ăn mì vịt quay trên phố ở Quảng Châu. Nếu chẳng vì chúng tôi, Sư Phụ sẽ không bao giờ đi ăn ở ngoài. Bữa ăn thường ngày của Ngài luôn là mì ăn liền.

Trong khóa giảng 9 ngày ấy, Sư Phụ đưa chúng tôi tới thăm ngôi tháp cổ Lục Dong, được xây dựng vào năm 537. Một ngôi chùa tọa lạc ở chính giữa vườn hoa. Khi chúng tôi bước dưới một cây đa cổ thụ, chúng tôi nhìn lên và cảm thấy nó có gì đó thật đặc biệt.

Khi lớp học kết thúc, Pháp Luân Công đã đặt định cơ sở tại Quảng Châu. Hiệu trưởng Trường khí công Bảo Lâm rất vui mừng. Ông ta nhiều lần thỉnh mời Sư Phụ hãy trở lại Quảng Châu.

4. Quý Châu, tháng 8/1993

ư Phụ chấp thuận lời mời của Hội nghiên cứu khí công Quý Châu vào năm 1993. Ngài tới thành phố Quý Dương lần thứ 2 để chủ trì một lớp học từ ngày 15/8 tới 21/8. Tôi may mắn được theo Sư Phụ và dự lớp học một lần nữa. Chúng tôi ở lại tại quán trọ. Mỗi ngày chúng tôi mang một số lượng lớn các tài liệu giảng dạy cho lớp học này.

Cô con gái tên là Mỹ Ca của Sư Phụ cũng tham gia với chúng tôi lần đó. Em mang một chiếc ba lô lớn chứa đầy các tài liệu giảng dạy. Bất kỳ ai trông thấy em mang chiếc ba lô nặng nề ấy đều nói “Nó quá nặng đối với em. Em còn bé như vậy chớ mang nặng như thế”. Vừa gắng sức kéo chiếc ba lô, em vừa nói “Em muốn thế. Em chỉ muốn làm thôi”. Vào cuối lớp học, chúng tôi thức cả đêm để làm chứng chỉ tốt nghiệp. Mỹ Ca thức cùng với chúng tôi và giúp đóng con dấu lên từng chứng chỉ.

Trong khóa học ấy, một buổi sáng Sư Phụ tới điểm luyện công tại công viên Kiềm Linh. Trạm trưởng Quý Châu giới thiệu tình hình luyện công của các đệ tử với Sư Phụ.

Cũng trong khóa học, trạm trưởng Quý Châu kể câu chuyện về con rắn thành tinh mà đã tu thành hình người ở trong núi. Nó đã 326 tuổi. Nó cố can nhiễu Sư Phụ giảng Pháp. Sau đó nó biết là nó đã sai. Nó bảo đại đệ tử của nó tới mời bà trạm trưởng Quý Châu tới hang động của nó. Ở đó nó yêu cầu bà báo lại với Sư Phụ rằng nó rất hối hận về những việc mà nó đã làm.

Sau khi lớp học kết thúc, trước khi rời Quý Châu, Sư Phụ tới phòng nhân viên công tác để xem thử chúng tôi đã gói ghém hành lý hay chưa. Ngài nhấc thử vài hành lý xem có nặng không, và bảo chúng tôi nên hình thành thói quen tốt là đặt mọi thứ trở lại trật tự ngăn nắp bất cứ khi nào chúng tôi sử dụng chúng xong. Ngài còn bày chúng tôi cách sửa sang lại hành lý.

5. Tỉnh An Huy, tháng 11/1993 và tháng 4/1994

Lớp học 9 ngày đầu tiên tại An Huy được tổ chức tại thành phố Hợp Phì vào ngày 19/11/1993. Đơn vị tổ chức là Hội nghiên cứu khí công tỉnh An Huy.

Địa điểm là Hội trường Đại học Nông nghiệp An Huy. Tổng số khoảng 511 người tham dự lớp học, với chỉ 260 người là từ thành phố Hợp Phì. Số còn lại là học viên từ nơi khác đến, và các quan chức cao cấp trong chính quyền tỉnh An Huy.

Sư Phụ tới thăm núi Cửu Hoa vào ngày 2/12/1993. Theo truyền thuyết, núi Cửu Hoa là đạo tràng của Bồ Tát Địa Tạng trong Phật giáo, nơi nhục thân của 3 vị cao tăng vẫn còn nguyên vẹn không mục nát sau hàng mấy trăm năm. Sư Phụ từng giảng “Giống như tại núi Cửu Hoa có 3 hòa thượng, nhục thân của họ đều đã mấy trăm năm, hơn một ngàn năm không mục nát chính là bởi vì thân thể của họ đã hoàn toàn được vật chất cao năng lượng thay thế rồi, cho nên chúng không phân hủy”.

Đi đường núi thật vất vả cực nhọc. Nhưng càng đi lên cao, chúng tôi càng cảm thấy trong lòng khoan khoái dễ chịu. Mây bồng bềnh bay quanh làm chúng tôi cảm giác như thể đang ở trên trời. Sư Phụ nói “Giờ chúng ta đang ở tầng trời thứ 3”. Đột nhiên nhiều vòng tròn lớn tỏa ánh kim quang lóa mắt xuất hiện. Chúng tôi cảm thấy như đã tới thế giới thần tiên.

Lát sau, một số học viên cảm thấy khát nước. Một người mua 2 lọ trái cây mời Sư Phụ ăn. Sư Phụ cầm mấy lọ ấy và bảo “Tôi đang khát. Chẳng phải chư vị cũng đang khát sao? Lại đây, chúng ta cùng dùng nào”.

Trong lúc hoàn thành lớp học 9 ngày đầu tiên, một học viên hỏi Sư Phụ khi nào Ngài sẽ quay trở lại. Sư Phụ mỉm cười và nói “Hợp Phì, tôi sẽ trở lại”. Hội nghiên cứu khí công địa phương nhân cơ hội này mời Sư Phụ giảng thêm một lớp. Sư Phụ đồng ý giảng lớp thứ 2 vào năm sau, vào ngày 15/4/1994. Ngài đoán trước là, vào lúc ấy sẽ có 1500 người tham dự lớp học.

Quả nhiên đúng như vậy, 1500 người đã hiện diện tại lớp học Pháp Luân Công thứ 2, tại Hội trường trường đảng tỉnh An Huy, từ ngày 15/4 tới ngày 24/4 năm 1994. Một lần nữa đơn vị tổ chức là Hội nghiên cứu khí công An Huy.

Vào ngày đầu tiên của lớp học, các học viên đều quá xúc động đến nỗi nhiều lần họ đứng lên vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt vang dội cả lớp học. Một số thậm chí còn đứng dậy đưa 2 tay lên quá đầu mà vỗ. Sư Phụ giảng “Kể từ lớp học này trở đi là giảng Pháp rồi, không còn dùng hình thức khí công mà giảng nữa”. Công mà Sư Phụ phóng ra quá mạnh mẽ đến mức ngay cả những học viên không mẫn cảm đi nữa cũng cảm thấy một năng lượng cường đại đẩy họ ngồi vững trên ghế. Đặc biệt là khi tĩnh lại và tập trung nghe giảng, họ không còn cảm thấy thân thể của mình nữa, như thể không còn nhục thân nữa.

Trong lớp học, có một học viên từ nông thôn tới. Anh ta khoảng hơn 30 và bị một cái bướu trên lưng. Một ngày anh ta vô cùng phấn khởi chạy tới chỗ chúng tôi, xoay người vòng quanh cho chúng tôi thấy cái lưng, và nói “Mọi người hãy xem! Mọi người hãy xem!”. Biểu hiện của anh ta thật là khác. Anh ta thúc giục “Mọi người sờ thử! Mọi người sờ cái lưng tôi xem!”. Mọi người sờ thử, thì hết sức kinh ngạc, lưng anh ta đã thẳng. Anh ta khóc ròng nói “Tối qua trong mộng tôi nghe trên lưng có tiếng rắc rắc, buổi sáng khi tỉnh dậy tôi không để ý gì tới cái lưng. Khi tôi đang rửa mặt, thì em gái tôi ngạc nhiên nói ‘Anh! Lưng anh thẳng lại rồi kìa!’ ”.

Sư Phụ luôn luôn mặc một bộ âu phục đã cũ và một chiếc sơ mi trắng đã bạc màu. Do qua nhiều lần giặt, cổ áo sơ mi và tay áo đều đã mòn xơ. Một học viên là chủ tiệm may đã may một bộ âu phục mới và khăng khăng thỉnh mời Sư Phụ mặc và chụp một bức ảnh. Tấm ảnh ấy sau này trở thành “Ảnh chụp gần đây của tác giả” trong cuốn Chuyển Pháp Luân.

Một ngày, chúng tôi nghe được một tin rất vui là Sư Phụ sẽ ăn tối với cả lớp ở Hợp Phì vào tối hôm ấy. Một số học viên ở xa vui mừng như trẻ con. Nghĩ rằng bụi bẩn và mồ hôi đầy mình, họ quyết định đi tắm và thay quần áo sạch sẽ để cùng ăn cơm với Sư Phụ.

Chúng tôi ngồi tại bàn chờ đợi Sư Phụ, tưởng tượng ra bữa ăn tuyệt vời chúng tôi sắp sửa cùng được dùng cùng với Sư Phụ. Thức ăn được mang lên – một tô súp rau lớn được đặt chính giữa bàn, rồi trước mặt mỗi người là một đĩa rau cùng với bát cơm. Chúng tôi đều rất kinh ngạc và nói “Ăn thế này sao?!”. Chúng tôi ứa nước mắt. Một học viên ngồi ngay đối diện Sư Phụ ăn rất nhanh, gần như úp mặt vào bát. Một lát sau, anh ta ngước lên và trông thấy Sư Phụ cẩn thận nhặt từng hạt cơm rơi và ăn. Học viên ấy hết sức xúc động. Sư Phụ trân quý mỗi từng hạt cơm. Để đánh thức chúng sinh đang mê lạc trong ảo mộng, để quy chính lại đạo đức của loài người đang trượt dốc, Sư Phụ đã trải qua vô số khổ nạn. Sư Phụ ăn là những thức ăn thanh đạm nhất mà người ta có thể tưởng tượng, nhưng điều mà Ngài cấp cho chúng ta lại là trân quý nhất.

6. Thành Đô, tháng 5 và 6 năm 1994

Lớp học Pháp Luân Công tại Thành Đô được tổ chức từ ngày 29/5 tới 5/6 năm 1994 tại hội trường của một khu tập thể, đơn vị tổ chức là Hội nghiên cứu khí công tỉnh Tứ Xuyên.

Mặc dù hội trường không đông chật trong ngày giảng Pháp đầu tiên, nhưng các học viên cảm thấy nội dung bài giảng của Sư Phụ khác hẳn các môn khí công khác, và tin tức lan truyền nhanh chóng. Vào những ngày giảng Pháp cuối cùng có trên 800 người tham dự lớp học, trong đó có nhiều người vội vã tới từ Trùng Khánh, đông bắc Trung Quốc, Bắc Kinh, Hồ Bắc, Quý Châu, Quảng Đông và Hồng Kông ngay khi nghe tin về lớp học. Hàng ngày mọi người rất phấn khởi sau khi bài giảng kết thúc, và có nhiều kinh nghiệm để chia sẻ với nhau.

Vào trưa ngày 2/6/1994, trong khi đội ngũ nhân viên công tác đang chuẩn bị các văn bằng tốt nghiệp, thì một học viên gõ cửa phòng bước vào và nói “Xin ngồi xuống và đừng làm gì cả. Sư Phụ đang ở phòng bên và sẽ mở thiên mục cho các bạn”. Các học viên nhắm mắt lại và lập tức cảm thấy toàn thân ấm lên. Mọi người cảm thấy căng căng ở giữa đôi lông mày và một trường năng lượng rất cường mạnh.

Lát sau, Sư Phụ bước vào. Nhiều học viên đổ xô tới bên Ngài và nói “Sư Phụ, chúng con sẽ theo Ngài mãi mãi. Ngài phải mang chúng con theo cùng, chúng con cũng muốn được theo Ngài lên Thiên thượng”. Sư Phụ chỉ vào họ, từng người một, và mỉm cười đầy từ bi “Tất cả mỗi chư vị đều có Thiên giới riêng của mình. Chư vị là vua của các thế giới ấy. Khi thời điểm tới, chư vị sẽ không đi theo tôi ngay cả nếu tôi yêu cầu chư vị như vậy”. Điều đó làm mọi người im lặng. Một số học viên vẫn cứ lẩm bẩm như trẻ con “Con muốn theo Ngài, con muốn theo Ngài!”.

Sư Phụ tới thăm tượng Phật lớn tại Lạc Sơn vào ngày 7/6/1994. Từ cuối bến phà nhìn qua sông, núi Ô Vưu và núi Lãng Vân dường như cùng nhau tạo thành hình ảnh một ông Phật khổng lồ đang nằm. Thuyền chạy quanh đầu ông Phật nằm ấy, vốn trông giống như một hòn đảo, qua bên sườn kia của ngọn núi.

Thế rồi có người nói “Nhìn kìa, Lạc Sơn đại Phật!”. Quả là một bức tượng Phật khổng lồ! Tượng Phật ngồi thẳng, 2 bàn tay đặt trên đầu gối, trông rất trang nghiêm. Tượng Phật lớn trên núi Lạc Sơn là tượng Phật Di Lặc và là tượng Phật lớn nhất thế giới.

Sư Phụ đứng mãi bên lan can và nhìn về phía trước. Khi con thuyền tới gần tượng Phật lớn núi Lạc Sơn, một học viên có thiên mục mở nhìn thấy Phật Lạc Sơn ấy đang khóc trông rất thương tâm. Từng bắp thịt trên khuôn mặt, ở cằm, và toàn thân run lên. Học viên ấy nói với Sư Phụ “Sư Phụ, Lạc Sơn đại Phật đang khóc!”. Sư Phụ trả lời “Đúng vậy, ông ấy đã ở đây chờ đợi tôi, đã lâu lắm rồi”.

Con thuyền cập bờ và chúng tôi bước đi trên một con đường rất hẹp và dốc. Sư Phụ để mọi người đi trước còn Ngài theo sau. Sư Phụ luôn luôn quan tâm tới người khác. Khi Sư Phụ tới bên tượng Phật, học viên thiên mục mở ấy nhìn thấy Phật Lạc Sơn mỉm cười hạnh phúc, những giọt nước mắt vẫn còn trên khuôn mặt. Học viên ấy nói với Sư Phụ “Sư Phụ nhìn kìa, Phật Lạc Sơn đang cười”. Sư Phụ cũng mỉm cười.

7. Trịnh Châu, tháng 6 năm 1994

Lớp học tiếp theo mở tại Trịnh Châu, và chúng tôi mua được ghế nằm trên xe lửa. Chúng tôi lên tàu trong một ngày nóng nực còn tàu thì chật cứng. Cũng như chúng tôi, Sư Phụ cầm hành lý của Ngài, mồ hôi ướt đẫm. Chúng tôi ở toa cuối cùng của đoàn tàu. Đó là toa cài thêm sau đoàn tàu chứ không thuộc đoàn tàu này của Cục đường sắt Thành Đô. Trên toa này không có nước uống và phục vụ gì cả, còn cánh cửa dẫn tới các toa khác đã bị khóa. Tôi thấy 2 học viên mang bình nước và cốc nước nhảy xuống tàu khi nó dừng để đi lấy nước trên toa phía trước. Trước khi họ kịp về lại chỗ ngồi thì tàu đã chuyển bánh và họ phải đợi cho tới ga kế tiếp mới về được. Nước họ lấy về được chỉ đủ làm một bát mì gói cho Sư Phụ. Khi chúng tôi lên tàu, các học viên ở Thành Đô biếu Sư Phụ một gói đào to, nhưng Sư Phụ cho chúng tôi ăn hết cả.

Toa chúng tôi là toa cuối đoàn tàu. Khi đoàn tàu đi qua núi Hoa Sơn, Sư Phụ đứng ở cuối đoàn tàu thật lâu. Chỉ tay về phía ngọn núi đàng xa, Ngài nói với chúng tôi “Kia là Hoa Sơn”. Chúng tôi nhìn về chỗ Ngài chỉ và thấy rất nhiều người tu Đạo trên núi Hoa Sơn đều xuống để diện kiến Sư Phụ. Một số người còn đi theo đoàn tàu và một số theo đến tận lớp học tại Trịnh Châu. Sư Phụ hỏi họ “Các vị nghĩ gì về các đệ tử của tôi?”. Một số trong họ đã tu luyện rất lâu rồi. Họ nói rất ít người trong số họ có thể sánh với đệ tử của Sư Phụ. Sau này, Sư Phụ nói về sự việc ấy trong bài giảng. Một vài học viên nhìn thấy nhiều người tu luyện trong trang phục cổ, từ trên núi quỳ lạy Sư Phụ.

So sánh với các lớp học khác, điều kiện của lớp học Pháp Luân Công tại Trịnh Châu thuộc loại tệ hại nhất. Đơn vị tổ chức là Hội nghiên cứu khí công thành phố Trịnh Châu đã tìm thấy một cung thể thao bỏ hoang và tổ chức lớp học tại đó. Sàn gỗ ở đây đã mòn và hỏng, còn chỗ ngồi là những bậc tam cấp với những viên gạch vỡ. Một số cửa sổ thậm chí còn không có kính. Các lớp học được tổ chức từ ngày 11 tới 18 tháng 6 năm 1994. Khoảng 1500 người từ khắp nơi trên cả nước tham dự, gồm các nhóm từ Quý Châu và từ đông bắc Trung Quốc, 110 học viên đến từ thành phố Trịnh Châu, khoảng 90 từ tỉnh Hà Nam, khoảng 300 từ tỉnh Sơn Đông, 400-500 từ tỉnh Hồ Bắc, khoảng 100 từ tỉnh Hà Bắc, khoảng 200 từ Bắc Kinh, và một số từ Hồng Kông.

Sư Phụ cân nhắc tới chi phí phát sinh cho các học viên và đã rút ngắn thời gian của lớp học, từ 10 xuống còn 8 ngày. Có 2 ngày Sư Phụ giảng Pháp 2 buổi, một vào buổi chiều và một vào ban đêm.

Mấy ngày sau vào cuối tuần, một sự việc đã xảy ra. Đó là 4 giờ chiều khi buổi học ngày hôm ấy bắt đầu, và mặt trời đang sáng tỏ. Thình lình, bầu trời chuyển sang đen tối và mây đen cuồn cuộn khắp trời. Gió lớn thổi ào ào rồi mưa xối xả, tiếp theo là mưa đá. Những viên nước đá đập lên mái rầm rầm, và nhiều viên rơi vào trong lớp học xuyên qua những lỗ thủng trên mái. Đột ngột tất cả đèn đều tắt ngấm. Mưa rỉ qua trần nhà rơi xuống bàn nơi Sư Phụ đang ngồi giảng. Sư Phụ dịch cái bàn qua một bên, và nước mưa liền chạy theo để nhỏ tiếp xuống bàn. Các đệ tử có phần rối loạn, cảm thấy bất an, đều nhìn Sư Phụ. Khi di chuyển cái bàn, Sư Phụ nói vui “Giờ thì chúng ta đỡ nóng rồi”. Mọi người đều cười. Sư Phụ tiếp tục bài giảng bằng một câu chuyện kể về các đệ tử của Thích Ca Mâu Ni vẫn giữ bình tĩnh khi ma quỷ can nhiễu trong lúc ông ấy đang giảng Pháp. Rất mau chóng, các học viên bình tĩnh lại, một quang cảnh thật trang nghiêm thần thánh. Sư Phụ ngồi trên bục giảng và làm một bộ đại thủ ấn. Sau đó, Ngài mở chai nước trên bàn, đưa tay phải ra, kéo và nắm chặt trong không khí. Tôi thấy Ngài đang bắt một con vật khổng lồ kỳ lạ trông giống như một con tê giác. Da của nó màu xám tro, rất thô, và trông nó rất già, đầy các nếp nhăn ở khắp mặt và cổ. Sư Phụ làm một thủ ấn, con vật liền trở nên yếu ớt rồi biến thành bé nhỏ. Sư Phụ bắt nó bỏ vào chai nước khoáng trên bàn và đóng nắp lại. Ngài cười và nói “Có người nói Đạo cao một thước, ma cao một trượng. Không có cái gì như thế cả. Tôi đã làm một việc rất lớn cho chư vị, đã loại bỏ rất nhiều thứ”. Ngay tức khắc, mưa tạnh, gió ngừng và đèn sáng lại. Tất cả mọi người vỗ tay nhiệt liệt hồi lâu, rồi lớp học lại tiếp tục.

Khi chúng tôi đi ra ngoài sau khi buổi học kết thúc, cả sân vận động ngập đầy nước và không ít cây trên phố gần sân vận động bị sét đánh đổ. Một người phụ nữ bán kem lớn tuổi kéo một học viên lại và hỏi “Chuyện vừa xảy ra là nhằm vào các vị đúng không?”. Học viên đó rất kinh ngạc. Thậm chí người thường còn biết những việc như vậy. Đài báo địa phương đưa tin về sự việc như thể đó là thiên tai bất ngờ, rằng mưa gió dữ dội đánh ngã cây cối và làm tốc mái nhà là do bão.

Sư Phụ chỉ ăn một tô mỳ ăn liền sau khi lớp học kết thúc vào lúc 9 giờ hằng đêm. Một hôm, Sư Phụ lo nghĩ các học viên đi theo Ngài làm công tác giúp lớp học đã vất vả quá nhiều nên đưa họ đi ăn tại một cửa hiệu nhỏ. Khi đang chờ thức ăn, chúng tôi thấy một cậu thanh niên đứng ngoài cửa một hồi, rồi bước đến, bỗng nhiên quỳ xuống trước mặt Sư Phụ và nói “Xin Sư Phụ hãy nhận con, con muốn được làm đệ tử của Ngài”. Sư Phụ lập tức đứng lên, lùi lại nửa bước, đỡ anh ta dậy: “Chúng ta không cần hình thức. Nếu cậu muốn làm đệ tử của tôi, chỉ cần tinh tấn tu luyện. Tôi đối xử với tất cả học viên đều như đệ tử”.

Cuối buổi học, người đại diện của đơn vị tổ chức rất xúc động nói với các học viên “Chiếc mic-rô không hoạt động trong suốt buổi học sáng ngày đầu tiên, các học viên có lúc không nghe được rõ. Đến buổi chiều, âm thanh micrô lại hết sức rõ ràng. Đó là do trong suốt buổi nghỉ trưa, Sư Phụ của các vị đã sửa lại mic-rô đấy. Ngày hôm đó Sư Phụ của các vị đã không ăn trưa và nghỉ ngơi gì cả. Ông ấy chỉ lặng lẽ làm việc mà không nói gì về việc đó”.

Rất nhiều học viên đã dâng tặng Sư Phụ các biểu ngữ để bày tỏ lòng biết ơn của họ khi lớp học ở Trịnh Châu kết thúc. Biểu ngữ lớn nhất có một chữ “Phật” khổng lồ, do các học viên tỉnh Hồ Bắc kính tặng Ngài.

Có một Đạo sỹ trẻ tuổi đã bắt đầu tập Pháp Luân Công từ năm 1993. Anh tham dự lớp học ở Trịnh Châu và đã tận tai nghe các bài giảng của Sư Phụ, tận mắt chứng kiến uy đức vĩ đại của Sư Phụ, rất nóng lòng xin được chụp ảnh riêng với Ngài. Ngày kết thúc khóa học, Sư Phụ đã chụp một tấm ảnh với anh ta. Người thanh niên trẻ ấy mặc bộ Đạo bào mới, búi tóc gọn gàng, xúc động nói “Hạnh phúc quá!”.

8. Tháng 6 năm 1994: Tế Nam, tỉnh Hà Nam

Sau lớp học ở Thường Châu, Sư Phụ tới Tế Nam vào ngày 21 tháng 6 năm 1994. Địa điểm lớp học là sân vận động Hoàng Thính, và có hơn 4000 người đã tham dự. Ban tổ chức là Trung tâm phục vụ Văn hóa Khoa học Thanh niên Sơn Đông. Rất nhiều học viên từ các thành phố khác đã theo Sư Phụ tới đây. Từ lớp học ở Tế Nam trở đi, rất khó để mua được phiếu vào lớp bởi ngày càng có nhiều người muốn tham dự.

Một vài học viên nhớ lại, “Khi Sư Phụ bước vào sân vận động, Ngài thường đi vào từ các lối khác nhau để bắt tay các học viên. Có rất nhiều người. Thật là mệt khi cố gắng bắt tay hết mọi người như vậy!”

Ngày 28 tháng 6 năm 1994 là ngày khai giảng lớp học ở Tế Nam. Sư Phụ nói với mọi người nhiều lần rằng, “Các học viên nào đang định tới lớp học ở Đại Liên, xin chớ bay tới đó. Thay vào đó, hãy đi tàu, xe buýt, hoặc thậm chí đi thuyền.” Sau đó chúng tôi được tin rằng chuyến bay gặp bão. Sau lớp học, Sư Phụ đã đợi các học viên ở cửa và bảo các tài xế chở họ đến các ga tàu hoặc bến xe.

9. Tháng 7 năm 1994, Đại Liên, tỉnh Liêu Ninh

Các học viên địa phương đã đến cảng Đại Liên để đón Sư Phụ vào sáng mồng 1 tháng 7 năm 1994. Khi chúng tôi đến, rất nhiều học viên đã yên lặng đứng đó đợi, có một số người cầm hoa, một số người cầm biểu ngữ. Tàu mà Sư Phụ đi cập bến vào khoảng giữa trưa. Ngài đã được các học viên chào đón nồng nhiệt. Sư Phụ cười và chuẩn bị lên xe. Các học viên bao quanh lấy Sư Phụ, chào đón và tặng hoa cho Người. Những người làm việc ở đó đã hỏi đầy ngạc nhiên, “Đây là ai mà lại được nghênh tiếp long trọng đến vậy!”

Ngày càng có nhiều các học viên tham dự lớp học. Công việc chuẩn bị bằng chứng nhận trở nên rất nặng nề. Vì phải đến Lữ Thuận vào 7h sáng ngày hôm sau, chúng tôi đã phải làm việc thâu đêm. Không còn gì để ăn vào đêm đó, chỉ còn một gói mỳ ăn liền duy nhất là bữa sáng của Sư Phụ ngày hôm sau. Lúc 6h sáng, Sư Phụ đến với một tô mỳ ăn liền trên tay. Ngài cười và nhẹ nhàng hỏi, “Chư vị làm việc cả đêm đấy ư?” Một học viên trả lời rằng đúng là như vậy. Sư Phụ sau đó đặt tô mỳ lên bàn và mỉm cười, “Vậy hãy mau ra ăn một chút đi.” Sau đó Ngài quay lưng lại và rời đi. Bốn năm người chúng tôi thay nhau ăn mà cảm động rơi nước mắt. Ngày hôm đó, Sư Phụ không ăn gì và đi tới Lữ Thuận với cái dạ dày trống rỗng cùng với các nhân viên phục vụ.

10. Tháng 12 năm 1994, khóa giảng và buổi thảo luận cuối cùng ở Trung Hoa Đại Lục

Khóa giảng thứ năm tại Quảng Châu được tổ chức tại sân vận động Quảng Châu từ ngày 21 đến ngày 29 tháng 12 năm 1994. Có hơn 6000 người đã tham gia. Ban tổ chức là Hội Nghiên cứu Khoa học Thân thể người Thành phố Quảng Châu. Không chỉ có những người từ Trung Quốc Đại lục tới, mà có cả những người từ Hồng Kông, Đài Loan và từ các nước khác. Đây là lớp học quốc tế đầu tiên.

Ngày đầu tiên của khóa học, một nữ học viên đến từ Hồng Kông đã đến thẳng lớp cùng với hành lý của cô. Một học viên phương Tây tuy không hiểu tiếng Trung lắm nhưng biết rằng Đại Pháp là tốt đã cố gắng hết sức để lắng nghe bài giảng của Sư Phụ. Khi nghe giảng, anh đã ngồi tư thế kiết già. Anh cũng mang theo vợ và con gái hai tuổi của mình.

Sáu ngàn vé được bán hết. Vẫn còn hàng trăm người muốn nghe giảng, nhưng không còn vé. Các học viên lâu năm từ Quảng Châu và các vùng khác đã nhường lại vé cho gần 200 người. Một học viên từ một thành phố khác đã đến Quảng Châu trước và chỉ có được 10 vé từ các nguồn khác nhau, nhưng vẫn còn thiếu rất nhiều. Tuy vậy, chị vẫn không có được vé nào cho mình. Nhân viên phụ trách ở Quảng Châu thấy vậy và đã giúp chị có thêm vài tấm vé nữa. Cuối cùng, chị có được tổng cộng 32 vé. Nhưng chị cũng không giữ lấy một tấm nào cho mình mà thay vào đó, xem bài giảng của Sư Phụ qua ti vi ngoài hội trường chính.

Ngày đầu tiên có khoảng bảy, tám chục học viên đứng ngoài đại sảnh để nghe. Họ cũng học các động tác ở bên ngoài. Sau giảng bài xong, Sư Phụ ra ngoài hội trường để gặp mặt các học sinh ở ngoài và nói rằng, “Có nhiều người tới quá. Ban tổ chức đang cố gắng giải quyết. Các học viên ở ngoài cũng như những người ở bên trong. Chư vị cũng sẽ nhận được những gì đáng được nhận.”

Sư Phụ tự mình trao đổi vấn đề này với ban tổ chức và giám đốc sân vận động. Ngày hôm sau, họ dựng một hội trường nữa để các học viên ở đó có thể nghe và xem Sư Phụ qua ti vi. Các nhân viên ở sân vận động không hiểu gì và nói rằng, “Chúng tôi đã tổ chức rất nhiều sự kiện ở đây nhưng chưa bao giờ thấy người ta say mê đến vậy. Vài ngàn người nghe giảng yên lặng đến mức người ta nghe được tiếng một cái kim rơi. Thật là cảm động, rất cảm động!” Mọi người đã rất lịch sự và nhã nhặn trong suốt khóa học 10 ngày.

Một vài học viên đã mang theo bánh tự làm và dưa chua từ nhà của họ ở những làng hẻo lánh phía bắc. Một nam học viên lớn tuổi đã nói rất hào hứng sau khi ông nghe bài giảng của Sư Phụ, “Tôi đến từ tận Giai Mộc Tư, cách đây 4000 kilômet về phía bắc, chỉ để nghe Sư Phụ giảng. Tôi quả là quá may mắn khi đắc được Đại Pháp!”

Sư Phụ đã đến hội trường thứ hai trong giờ nghỉ để gặp các học viên, đó là một điều ngạc nhiên cho tất cả mọi người. Các học viên đã khóc. Mắt Sư Phụ cũng ướt. Sư Phụ bắt tay mọi người và nói, “Các học viên ở ngoài cũng như những người ở trong hội trường chính. Không ai bị bỏ sót cả.” Một học viên thậm chí đã khóc nức nở.

Cuối buổi Sư Phụ nói rằng: “Có hơn ba ngàn người đã tới từ những miền thật xa xôi, xa nhất là từ Hắc Long Giang và Tân Cương, cách đây những bốn năm ngàn kilômet, hay hơn tám ngàn dặm. Tới đây là một quãng đường dài, và chư vị đã rất vất vả. Có nhiều người thậm chí không có đủ tiền, hàng ngày họ ăn mỳ gói hay thậm chí bánh quy.” (“Giảng Pháp và trả lời câu hỏi tại Quảng Châu”)

Sư Phụ đã cân nhắc tới các học viên có hoàn cảnh khó khăn, vì thế Ngài đã giảm số ngày của khóa học xuống một ngày so với kế hoạch dự tính và kéo dài thêm bài giảng mỗi ngày.

Ngày khóa học kết thúc, Sư Phụ đi quanh hội trường. Rất nhiều học viên đã tới để bắt tay Ngài. Sư Phụ thấy một người nông dân có vẻ rất khiêm tốn và bẽn lẽn và cố ẩn mình sau mọi người. Sau khi chụp ảnh với mọi người xong, Sư Phụ tiến đến người nông dân, bắt tay anh và nói rất nhân từ rằng, “Tôi biết anh đến từ một vùng quê. Anh đã đến tận đây để đắc Pháp.” Người học viên này đã đến từ một làng xa xôi và đã tập Thiền Tông trong mười tám năm và hiện đang tìm một vị Sư Phụ mới. Bỗng nhiên anh cảm nhận được một luồng nhiệt ấm nóng chạy khắp cơ thể mình.

Việc mua vé tàu về nhà rất khó khăn. Một học viên lớn tuổi muốn mua 12 vé. Nhưng có quy định ở ga tàu là mỗi người chỉ được mua một vé. Nhân viên bán vé hỏi, “Ông có ưu tiên gì đặc biệt không?” Ông trả lời, “Vâng, tôi có.” Sau đó, ông cho người nhân viên xem bức ảnh của Sư Phụ. Sau đó người ta đã bán cho ông 12 vé.

Khóa giảng thứ năm ở Quảng Châu đã kết thúc vào ngày 29 tháng 12 năm 1994. Đây là khóa giảng cuối cùng tại Trung Hoa Đại lục.

Bài phát biểu cuối cùng của Sư Phụ ở Trung Hoa Đại lục là tại Đại Liên. Nhân viên phụ trách đã không thông báo trước cho các học viên, nhưng nhiều học viên đã tự tới sân bay đón Sư Phụ. Để không cản đường các hành khách khác, các học viên đã đứng dọc hai bên sảnh cạnh phòng đón tiếp gần cửa, họ kéo thành một hàng dài ra tới tận quảng trường. Rất nhiều hành khách đã hỏi, “Hôm nay ai đến mà lại có nhiều người ở đây để đón tiếp vậy?” Các học viên đã trả lời đầy tự hào, “Sư Phụ của chúng tôi sắp đến!”

Một đám mây dày màu cam mang điềm lành xuất hiện trên bầu trời xanh. Máy bay đã bay quyên qua đó và đám may biến mất. Mười phút sau, Sư Phụ mặc áo khoác đen, xuất hiện ở sảnh với hoa trên tay.

Sư Phụ phát biểu tại sân vận động Tinh Hải tại Đại Liên ngày 31 tháng 12 năm 1994. Bài nói chuyện kéo dài ba giờ đồng hồ và đã có 6600 người tham dự. Khóa thảo luận này đã đánh dấu việc kết thúc giảng Pháp và dạy các bài tập công của Sư Phụ tại Trung Hoa lục địa. Cùng hôm đó Sư Phụ đã viết bài thơ,

“Càn khôn mang mang,
Nhất luân kim quang.
Giác giả hạ thế,
Thiên địa đồng hướng.
Vũ trụ lãng lãng,
Đồng hoá Pháp quang.
Viên mãn phi thăng,
Đồng hồi thiên đường.
(“Đồng hóa viên mãn”, Hồng Ngâm)

Khi Sư Phụ kết thúc buổi thảo luận, cả hội trường đã vỗ tay nhiệt liệt. Các học viên đứng dậy và nhìn lên Sư Phụ. Sư Phụ đang xoay chuyển Pháp Luân lớn trên sân khấu! Sư Phụ bước xuống bục giảng và đi quanh hội trường, vẫy về phía các học viên. Tất cả mọi người đều cảm nhận được một luồng nhiệt ấm nóng chảy qua.

Sau đó, Sư Phụ chậm rãi đi ra khỏi sân vận động. Các học viên biết rằng Sư Phụ đã nhận được lời mời từ Pháp, và Ngài sẽ sớm ra nước ngoài. Vì thế mọi người đã theo Sư Phụ ra ngoài hội trường. Sư Phụ nhìn quanh và lặng lẽ nói lời từ biệt. Ngài đi rồi các học viên vẫn cứ đi theo. Họ cứ lặng lẽ đi theo rồi lại dừng lại trong hơn mười phút. Lúc đó, một cậu bé 12 tuổi từ Đông Bắc Trung Quốc phấn khích hét lên, “Sư Phụ! Sư Phụ!” Sư Phụ quay lại, xoa đầu cậu bé và nói rất nhân từ, “Hãy tu luyện tinh tấn.”

Sư Phụ không lên xe ngay. Các học viên đứng quanh Sư Phụ. Cảnh tượng giống như một bông sen dưới mặt trời mùa đông: Sư Phụ là nhụy vàng, còn các học viên là những cánh hoa. Các học viên đều bày tỏ sự tôn kính sâu sắc đối với Sư Phụ. Lúc đó, không khí như thể ngưng lại. Mọi người lặng lẽ nhìn Sư Phụ và muốn khắc sâu hình ảnh, giọng nói, ánh nhìn và nụ cười của Sư Phụ vào tâm trí họ. Nhiều học viên đã rơi nước mắt.

Lời kết

Sự từ bi của Sư Phụ đã thức tỉnh chúng ta. Những lời giảng trong Chuyển Pháp Luân là những gì chúng ta tìm kiếm! Nó chứa đựng tất cả thiên cơ; quả là một quyển sách quý giá! Giống như Sư Phụ đã nói,

“Tầm sư kỷ đa niên,
Nhất triêu thân đắc kiến;
Đắc Pháp vãn hồi tu,
Viên mãn tùy sư hoàn.”
(“Duyên quy thánh quả”,Hồng Ngâm)

Các nguyên lý Chân-Thiện-Nhẫn tồn tại trong tất cả mọi thứ trong vũ trụ. Nếu chúng ta dùng tâm để cảm nhận, chúng ta sẽ có thể hiểu được những điều bí mật trong đó. Xin hãy trân trọng cơ hội trân quý này.

Nguồn: http://chanhkien.org/2012/05/hoi-tuong-nhung-nam-dau-truyen-phap-luan-dai-phap-video.html